Chuyên đề

Các vấn đề liên quan đến đời sống tinh thần, chính trị, văn hóa, kinh tế, tài chính, giáo dục... mà con người hay một xã hội đang đối mặt.

Cơ cấu diệu lực vô hình của bộ óc Trí Thấy

Các tin liên quan
Sườn đi của mình vẫn là giải quyết về sự thấy và tri thức: Sự thấy đúng, thấy đủ, thấy như thật. Đồng thời, phát triển tri thức theo sự thấy đó và làm rõ thêm về tri thức trong sự thấy; mối tương quan giữa trí thấy và tri thức; song song đó cũng làm rõ có một loại trí thấy và tri thức nguyên thuỷ chưa bị kinh nghiệm hay ý tưởng chi phối.

CƠ CẤU DIỆU LỰC VÔ HÌNH CỦA BỘ ÓC TRÍ THẤY

Aba sẽ nói rõ thêm một số vấn đề cốt lõi của học thuyết Trí Thấy. Vấn đề căn bản ít người thấy là các nhà nghiên cứu triết học bế tắc về tri thức. Do đó, sự ra đời của Trí Thấy đóng vai trò giải quyết các vấn đề bế tắc của tri thức, sự hạn chế cũng như xung đột của tri thức. Từ đây mới thấy được tầm quan trọng của Trí Thấy. Cho nên, hướng biên tập của mình cũng phải làm nổi bật cái này. Những cái khác chỉ là bổ sung. Sườn đi của mình vẫn là giải quyết về sự thấy và tri thức; sự thấy đúng, thấy đủ, thấy như thật. Đồng thời, phát triển tri thức theo sự thấy đó và làm rõ thêm về tri thức trong sự thấy; mối tương quan giữa trí thấy và tri thức; song song đó cũng làm rõ có một loại trí thấy và tri thức nguyên thuỷ chưa bị kinh nghiệm hay ý tưởng chi phối. Khi anh nhìn một vật thể thì không có bất cứ gì chi phối anh, từ ý tưởng đến kinh nghiệm không thể chi phối được, anh vẫn có ý thức đang nhìn cái đó nhưng không có gì can thiệp vào, trong đầu anh chỉ còn lại anh đang ý thức và xuất hiện cùng với ý thức là sự thắc mắc.

Đó là cái gốc của vấn đề mà Aba muốn lặp lại để từ đó mình xây dựng cái sườn về học thuyết của mình. Làm sao Trí Thấy thành học thuyết tri thức rõ nét nhất, chuyên sâu nhất để người ta nghiên cứu, các thế hệ nghiên cứu và bên cạnh công tác nghiên cứu của các thế hệ thì mình ra bộ luật. Bộ luật đó cũng là hiện thân của học thuyết Trí Thấy và làm sao xây dựng cho được nền tảng của học thuyết Trí Thấy. Nền tảng của học thuyết bao gồm học thuyết và phần ứng dụng thông qua luật. Học thuyết là điều thấy và đưa ra. Đồng thời, làm một bộ luật ứng dụng. Chứ còn chờ anh học rồi anh trải nghiệm thì làm sao anh làm được! Anh không thể làm được. Học rồi trải nghiệm, nhận thức mở mang, nó là một phần khác, phần hỗ trợ thôi. Phần hỗ trợ để anh thông phần lý thuyết và phần hỗ trợ để thực hành qua bộ luật. Một cơ cấu 3 phần bao gồm:

1. Lý thuyết, học thuyết (đây mới là phần tuyên bố thôi);
2. Những bài giảng hỗ trợ cho nhận thức, cảm nhận về học thuyết, đồng thời hỗ trợ cho việc ứng dụng bộ luật;
3. Ứng dụng thông qua bộ luật.

Mình đưa ra cơ cấu này và toàn bộ các tác phẩm biên tập của mình xoáy chung quanh đó. Tổng kết lại cả quá trình mình làm việc là mình đưa cái này ra, tạo nền tảng ban đầu, cấu trúc ban đầu. Sau này các thế hệ nghiên cứu cũng bám sát vào đó chứ nếu không có con đường cụ thể để bám vào, không có cơ sở bám vào thì người ta sẽ đi lan man không hiệu quả.

Nói tới tất cả những người học Trí Thấy cũng như phong trào Trí Thấy, hay khi người ta nghĩ tới Trí Thấy là người ta nghĩ tới cơ cấu về Trí Thấy, cơ cấu về trí tuệ của nó là học thuyết, nền tảng của học thuyết và cơ cấu chung quanh học thuyết này. Lúc đó, người ta sẽ biết muốn nghiên cứu học thuyết Trí Thấy này phải đi qua ba bước như vậy. Anh đọc về học thuyết, đọc những tuyên bố của học thuyết, tuyên bố thì rất ngắn, đơn giản thôi. Còn lại anh đọc bài giảng, anh xem, anh cảm nhận và anh thấu hiểu thêm về học thuyết; đồng thời, nó làm đầu óc anh bừng sáng và nhẹ đi để anh chấp nhận học thuyết và ứng dụng học thuyết bằng bộ luật. Vấn đề rõ rồi thì không mơ hồ được.

Vấn đề bây giờ chỉ tổng kết lại như vậy để dễ cho người học, dễ cho anh em muốn tìm hiểu. Mỗi hiền giả Trí Thấy mang trong đầu mình một cơ cấu của học thuyết Trí Thấy. Mỗi người vững vàng là nhờ cơ cấu này, từ cơ cấu này mới hình thành tư tưởng và triết lý của nó. Và tư tưởng cũng như triết lý sống của nó hình thành trong từng giai đoạn. Bởi vì tư tưởng và triết lý sống có cái chiến lược cả đời, có cái áp dụng trong từng giai đoạn. Ví dụ về mặt tư tưởng phải xác định là: Trong đầu của nó phải hình thành một cấu trúc về học thuyết Trí Thấy, phải đeo đuổi cái đó suốt đời. Nghiên cứu và hình thành học thuyết Trí Thấy trong đầu như là một phương tiện, một dụng cụ tri thức mà mỗi người học phải thành tựu cái này, chứ không phải thành tựu là giác ngộ, không phải thành tựu là chứng này chứng kia. Rồi mình cứ nhìn mỗi người, nhìn xã hội cũng giống vậy. Rất nhiều người trong xã hội này người ta thấm nhuần học thuyết Trí Thấy thì trong đầu người ta cũng chứa nội dung đó. Như vậy, đây là điểm mạnh của dân tộc Việt Nam mà trước nhất là điểm mạnh của các hiền giả học Trí Thấy. Từ đây mới ra một cái lực. Phát triển tư tưởng, phát triển triết lý đồng thời phát triển lực, ra lực. Sức mạnh của anh, sức mạnh của con người học Trí Thấy là sức mạnh của cấu trúc này, đồng thời lực do chính cấu trúc tạo ra. Một cái lực do cấu trúc tạo ra. Thì nó sẽ làm nổi bật, làm rõ nét hơn.

Một điều cần nói nữa là: Tính trống rỗng và vai trò của tính trống rỗng trong tri thức, trong Trí Thấy cũng như trong cuộc sống, trong thực tiễn. Vai trò của tính trống rỗng, thì mình thấy thế này: Trống rỗng càng ít thì con người càng khó sống. Trống rỗng càng nhiều con người dễ sống hơn. Tính trống rỗng nuôi dưỡng tất cả chứ không phải chỉ con người. Nó nuôi dưỡng và là nền tảng cho tất cả.

Các cuốn sách, video, các bộ luật là sự cụ thể hóa học thuyết. Nền tảng căn bản của học thuyết, nền của học thuyết hay tính chất độc đáo của học thuyết là gắn liền với sự trống rỗng, tính thiên nhiên và tính tự nhiên. Nó kết dính với những cái đó. Tính trống rỗng sinh ra thấy gốc và ý thức gốc. Thấy gốc và ý thức gốc liên kết chặt với tính trống rỗng, giống như nền tảng của nó là tính trống rỗng. Làm sao khi học và ứng dụng cái này phải liên tưởng đến tính trống rỗng trong đầu và tính thuần khiết, tức tính thiên nhiên, tính tự nhiên. Hay mình không nói tính trống rỗng mà nói là tính thông thoáng vô tận để dễ liên tưởng tới sự thông thoáng vì tính trống rỗng nhiều khi không hiểu được, khó hiểu. Dùng từ khác thay thế. Tính thông thoáng cũng được, nó thoáng, nó thông.

Thật ra các vật thể, cơ thể mình hay ý tưởng trong đầu óc mình cũng vậy, nó đang vận động trong tính thông thoáng và cũng tiêu huỷ trong tính thông thoáng. Nếu không có tính thông thoáng thì nó không vận động được, không phát triển được, không tiêu huỷ được. Bản thân nó đang vận động trong tính thông thoáng nên nó mới có khả năng chết, chết là hiện tượng của tính thông thoáng, nếu nó không thông thoáng thì nó không chết, không thông thoáng thì nó không sinh ra, không thông thoáng thì nó không vận động được.

Cho nên trong tư duy, trong sản phẩm trí tuệ của con người cũng phải luôn gắn kết với tính thông thoáng này, anh đừng chấp vào cái xuất hiện mà luôn nhớ tới tính thông thoáng là mẹ đẻ của cái xuất hiện. Mà tính thông thoáng thì vô tri vô giác. Còn cái kia, tính nhận thức và tính thấy thì không phải vô tri vô giác; do đó nó gắn với tính thông thoáng. Tính thông thoáng cũng có thể được hiểu là tính toàn thể, tính bao trùm. Và tính thông thoáng cũng là mẹ đẻ của thiên nhiên. Nó là tính gốc của thiên nhiên chứ không phải thiên nhiên không. Do đó, mọi sự chấp vào kiến thức là đều không phù hợp. Anh phải chấp vào cái thông thoáng chứ không chấp kiến thức được. Tính thông thoáng chính là mẹ đẻ ra thiên nhiên, đẻ ra tự nhiên. Mà nó cũng chính là cái gốc, là mẹ đẻ ra sự thấy và ý thức. Mà tính thông thoáng thì chứa bí mật không giải thích được. Tính thông thoáng là tính bí mật, tính không giải thích được, gọi là tính hiển nhiên tự có mà con người không thể tạo ra, không thể hủy diệt được. Anh choán chỗ nó thì nó sẽ hủy diệt anh.

Cho nên, tất cả mọi thứ diễn biến trên thế giới thì nói cho yên lòng thôi, đố con người quậy gì! Quậy trời, quậy đất cũng chẳng giá trị gì hết vì tính thông thoáng sẽ xử lý hết. Nó có một thứ quyền lực ghê gớm, một thứ quyền lực không thể nghĩ bàn sẽ xử lý hết toàn bộ sự toan tính của con người. Nó giống như một lực bí mật. Lực bí mật cũng là tính thông thoáng. Ví dụ một người sống không ràng buộc gì hết như Aba đang sống thì sống trong tính thông thoáng và dĩ nhiên nó phải có lực. Cái lực đó là như vậy. Còn anh có chút gì ràng buộc, anh có tình cảm nhưng anh ràng buộc trong tình cảm đó thì cuối cùng mình bị hạn chế. Không ai nói là anh không có tình cảm nhưng anh không được để cho nó ràng buộc, vấn đề là không cho nó ràng buộc, giống như trên đường đi anh đi qua vậy thôi, không cho nó ràng buộc. Cho nên cái này khó ứng dụng lắm chứ không phải dễ. Vì con người không thể nào dễ dàng bám vào bản chất thông thoáng để sống như thế mà vẫn có nhu cầu dính mắc và cho dính mắc là một thứ tài sản, một thứ thành tựu. Anh chưa dính cái này, chưa dính cái kia là chưa có thành tựu, chưa có nền tảng. Nó gay go thế, rất khổ sở với cái này.

Dần dần, anh từ bỏ những ưu tư. Những ưu tư đời thường nhiều quá đó anh sẽ từ bỏ được. Đồng thời, anh phát hiện và khống chế được các trạng thái cảm xúc và tâm lý tiêu cực. Tính thông thoáng sẽ xử lý hết và xử lý luôn những suy nghĩ, những mong ước, mong muốn, những ưu tư, những sự thèm khát nhỏ nhặt mang tính gây rối. Bởi anh dính cái gì thì nó gây rối cái đó.

Thì cũng có thể khi đọc cái này người ta thấy nó na ná một số cái người ta đã đề cập rồi. Có thể người ta cảm nhận mình có một cuộc sống có hiệu quả, một cuộc sống thông thoáng không dính mắc nhưng người ta không tìm ra được một quy trình hay sự bí mật của đầu óc. Đây thuộc thế giới bí mật của vũ trụ và bí mật của đầu óc.

Cho nên, cuối cùng gút lại vẫn là bộ luật. Không có bộ luật là không có chỗ dựa. Có bộ luật thì sau này người của các tôn giáo khác nghiên cứu thấy hay người ta cũng sẽ ứng dụng bộ luật, người ta không cần phải dựa vào tôn giáo nữa. Người ta dựa vào tôn giáo là dựa vào các luật tôn giáo đưa ra. Mình đưa bộ luật này người ta thấy hợp lý hơn thì người ta sẽ bỏ các luật khác. Người ta thấy bộ luật này rất văn minh, rất nhân bản, rất thực tế, rất hiệu quả, tạo lực cho con người, tạo trí cho con người thì những luật khác người ta không cần nữa. Bộ luật này là giải quyết cho số đông hay hàng tỉ con người trên thế giới có một cơ sở để sống. Tham vọng của bộ luật là cạnh tranh với các tôn giáo và cạnh tranh với các bộ luật của các quốc gia. Tham vọng lớn của bộ luật này là nó bao trùm, nền tảng nhưng chi tiết và có tính thay thế.

ABA
(Sáng 09.02.2017 – Nói với Minh Trí trong lúc dạo bộ để tìm khách sạn giá rẻ - Minh Trí ghi lại)

Nhận xét